CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Họ và tên, địa chỉ công tác, chức vụ, nhiệm vụ được giao:
Họ và tên: Trần Thị Loan.
Địa chỉ công tác: UBND phường Đại Nài, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
Chức vụ, nhiệm vụ được giao: Công chức Tư pháp - Hộ tịch.
2. Tên sáng kiến và lĩnh vực áp dụng:
2.1. Tên sáng kiến: “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đăng ký hộ tịch của Ủy ban Nhân dân cấp xã”.
2.2. Lĩnh vực áp dụng: Tư pháp - Hộ tịch.
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là đơn vị cơ sở trong hệ thống đơn vị hành chính của Nhà nước Việt Nam. Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương, trực tiếp giải quyết các mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân; đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống. Trong đó, lĩnh vực Tư pháp - Hộ tịch và người công chức Tư pháp - Hộ tịch giữ một vị trí hết sức quan trọng.
Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác nhận tình trạng nhân thân của một con người từ khi sinh ra đến khi chết. Trong đó, đăng ký và quản lý hộ tịch là một trong những nhiệm vụ quan trọng luôn được các quốc gia quan tâm thực hiện. Hoạt động này góp phần tạo cơ sở pháp lý để người dân được công nhận các quyền con người, quyền, nghĩa vụ công dân và để Nhà nước bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của họ, có biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ thiết thực cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận, ghi vào sổ đăng ký các thông tin hộ tịch cần thiết của cá nhân, cấp giấy tờ hộ tịch tương ứng, tạo cơ sở pháp lý để xác lập mối quan hệ giữa cá nhân với Nhà nước; đây là nhiệm vụ quan trọng luôn được các quốc gia quan tâm thực hiện. Sau khi giành được chính quyền vào tháng 8/1945, Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đăng ký, quản lý hộ tịch, các văn bản này thường xuyên được điều chỉnh, sửa đổi, bảo đảm phù hợp với thực tế.
Thời gian qua, công tác hộ tịch nói chung và đăng ký hộ tịch nói riêng của Ủy ban nhân dân cấp xã (xã, phường, thị trấn) nhìn chung đã có nhiều cố gắng, cơ bản được tổ chức thực hiện tốt. Vì vậy, công tác đăng ký hộ tịch đã dần đi vào nề nếp, đạt được những kết quả nhất định: các sự kiện đăng ký hộ tịch của người dân cơ bản được thực hiện kịp thời và đúng quy định của pháp luật đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu của công dân; trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch từng bước được đơn giản hóa, tạo thuận lợi cho người dân. Đồng thời trong quá trình thụ lý và giải quyết, sự phối hợp giữa Ủy ban nhân dân cấp xã với các cơ quan có liên quan cũng chặt chẽ hơn, bỏ bớt các thủ tục rườm rà, không cần thiết, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của công dân.
Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn nhiều hạn chế như: Tình trạng đăng ký quá hạn ở lĩnh vực đăng ký khai sinh vẫn còn xảy ra, nguyên nhân do nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về hộ tịch của cán bộ và nhân dân còn có hạn chế. Việc sử dụng phần mềm đăng ký và quản lý hộ tịch dùng chung của Bộ Tư pháp còn gặp nhiều vướng mắc như: Thiếu nhiều trường thông tin khi nhập dữ liệu dẫn đến các tờ khai khi in ra bị thiếu thông tin. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch tương đối đầy đủ nhưng một số nội dung chưa quy định chi tiết, gây khó khăn cho cơ sở trong quá trình triển khai thực hiện... Do đó để nâng cao chất lượng công tác đăng ký hộ tịch của Ủy ban Nhân dân phường cấp xã, bản thân là Công chức Tư pháp - Hộ tịch, tôi lựa chọn nội dung “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đăng ký hộ tịch của Ủy ban Nhân dân cấp xã” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm.
2. Mục đích thực hiện sáng kiến
3. Nhiệm vụ
Phân tích, đánh giá thực trạng công tác hộ tịch nói chung và đăng ký hộ tịch nói riêng của Ủy ban nhân dân phường Đại Nài trong những năm gần đây. Đề xuất giải pháp thực hiện trong những năm tiếp theo.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Ủy ban nhân dân Phường Đại Nài, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
5. Cơ sở lý luận
Luật Hộ tịch ngày 20/11/2014; Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ ban hành quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch; Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp ban hành, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch; Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-BNG-BTP ngày 30/6 /2016 của Liên Bộ Ngoại giao - Tư pháp ban hành, hướng dẫn việc đăng ký và quản lý hộ tịch tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, bảo đảm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đăng ký, quản lý hộ tịch được đồng bộ, thống nhất; Thông tư số 04/2020/TT-BTP, ngày 28/5/2020 Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành, quy định chi tiết một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH
1. Vị trí địa lý
Phường Đại Nài nằm về phía Nam Thành phố Hà Tĩnh, Phía Bắc giáp phường Văn Yên, phường Nam Hà; Phía nam giáp xã Thạch Bình; Phía Đông giáp xã Tượng Sơn; Phía Tây giáp xã Thạch Lâm, xã Thạch Tân (huyện Thạch Hà). Diện tích 426.5ha, tổng số hộ có 1.704 hộ; 6.268 nhân khẩu, được chia làm 10 tổ dân phố, có nhiều cơ quan, trường học đóng trên địa bàn, có chùa Cảm Sơn và 02 nhà thờ họ giáo. 8/10 Tổ dân phố chủ yếu sản xuất nông nghiệp; điểm xuất phát của phường thấp; quy hoạch đô thị chưa mang tầm phường; hệ thống giao thông chưa đảm bảo; các công trình công cộng khác còn nhiều bất cập; đời sống của nhân còn nhiều khó khăn dẫn đến việc huy động nguồn lực để xây dựng cơ sở hạ tầng chỉnh trang đô thị còn nhiều hạn chế.
2. Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng - an ninh.
Tên gọi Phường Đại Nài được chuyển từ xã Đại Nài vào năm 2004. Tuy đã là Phường thuộc Thành phố Hà Tĩnh nhưng về cơ bản đời sống nhân dân còn dựa vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, nền kinh tế còn nhiều khó khăn. Là phường nhưng có 6/8 tổ dân phố còn sản xuất nông nghiệp; trình độ dân trí không đồng đều, thu nhập và đời sống của nhân dân còn thấp, kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhưng trong những năm qua được sự quan tâm của Cấp ủy và các ban ngành cấp Thành phố, sự nỗ lực phấn đấu của cấp Đảng ủy, Chính quyền, Mặt trận, đoàn thể và nhân dân toàn phường nên bộ mặt đô thị của phường đã khang trang hơn. Kinh tế phát triển; Kết cấu hạ tầng được nâng cấp và xây dựng mới. Đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân được nâng lên, thu nhập bình quân từ 40-45 triệu đồng/người/năm. Giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; Văn hóa xã hội có bước phát triển, các phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao phong phú đa dạng được nhân dân đồng tình hưởng ứng. Chất lượng y tế, giáo dục được nâng lên. Phường đang tập trung hoàn thành các tiêu chí về đích phường văn minh đô thị.
3. Một số kết quả trong công tác hộ tịch nói chung và đăng ký hộ tịch nói riêng của Ủy ban nhân dân phường Đại Nài, thành phố Hà Tĩnh.
Thời gian qua, công tác đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn, đăng ký khai tử trên địa bàn phường Đại Nài, thành phố Hà Tĩnh được triển khai thực hiện tốt, ngày càng hiệu quả và đi vào nề nếp .
Kết quả cụ thể từ năm 2015 đến nay như sau:
Năm 2015, Ủy ban nhân dân phường đã thực hiện đăng ký khai sinh cho 139 trường hợp trẻ mới sinh, trong đó 87,8% trẻ em đã được đăng ký khai sinh đúng hạn. Đăng ký lại khai sinh 180 trường hợp; Đăng ký kết hôn cho 52 cặp, trong đó chủ yếu là đăng ký mới với 52 cặp (chiếm 100%). Đăng ký khai tử cho 22 trường hợp, trong đó đăng ký đúng hạn là 14 trường hợp. Đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung thông tin hộ tịch cho 05 trường hợp.
Năm 2016, Ủy ban nhân dân phường đã thực hiện đăng ký khai sinh cho 114 trường hợp trẻ mới sinh, trong đó 87,7% trẻ em đã được đăng ký khai sinh đúng hạn. Đăng ký lại khai sinh cho 64 trường hợp. Đăng ký kết hôn cho 46 cặp, trong đó chủ yếu là đăng ký mới với 45 cặp (chiếm 97,8%). Đăng ký khai tử cho 24 trường hợp, trong đó đăng ký đúng hạn là 16 trường hợp. Đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung thông tin hộ tịch cho 02 trường hợp. Đã cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho 77 trường hợp, trong đó để sử dụng cho mục đích đăng ký kết hôn là 45 trường hợp. Đã ghi nhận 03 trường hợp đăng ký nhận cha mẹ con.
Năm 2017, Ủy ban nhân dân phường đã thực hiện đăng ký khai sinh cho 136 trường hợp trẻ mới sinh, trong đó 90,4% trẻ em đã được đăng ký khai sinh đúng hạn. Đăng ký lại khai sinh cho 86 trường hợp. Đăng ký kết hôn cho 43 cặp, chủ yếu là đăng ký mới với 42 cặp (chiếm 97,7%). Đăng ký khai tử cho 28 trường hợp, trong đó đăng ký đúng hạn là 19 trường hợp. Đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung thông tin hộ tịch cho 06 trường hợp. Đã cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho 83 trường hợp, trong đó sử dụng cho mục đích để đăng ký kết hôn 48 trường hợp. Đã ghi nhận 01 trường hợp đăng ký nhận cha mẹ con.
Năm 2018, Ủy ban nhân dân phường đã đăng ký khai sinh cho 116 trường hợp trẻ mới sinh, trong đó 86,2 % trẻ em đã được đăng ký khai sinh đúng hạn. Đăng ký lại khai sinh cho 60 trường hợp. Đăng ký kết hôn 41 cặp, trong đó đăng ký mới 40 cặp (chiếm 97,%). Đăng ký khai tử cho 22 trường hợp, trong đó đăng ký đúng hạn là 12 trường hợp. Đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung thông tin hộ tịch cho 05 trường hợp. Đã cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho 95 trường hợp, trong đó sử dụng cho mục đích để đăng ký kết hôn là 58 trường hợp. Đã ghi nhận 01 trường hợp đăng ký nhận cha mẹ con.
Năm 2019, Ủy ban nhân dân phường đã đăng ký khai sinh cho 127 trường hợp trẻ mới sinh, trong đó 89,8% trẻ em đã được đăng ký khai sinh đúng hạn. Đăng ký lại khai sinh cho 45 trường hợp. Đăng ký kết hôn 41 cặp, trong đó đăng ký mới 40 cặp (chiếm 97%). Đăng ký khai tử cho 28 trường hợp, trong đó đăng ký đúng hạn là 12 trường hợp. Đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung thông tin hộ tịch cho 05 trường hợp. Đã cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho 95 trường hợp, trong đó sử dụng cho mục đích để đăng ký kết hôn là 48 trường hợp.
Chín tháng đầu năm 2020, Ủy ban nhân dân phường đã đăng ký khai sinh cho 81 trường hợp, trong đó 87,7% trẻ em đã được đăng ký khai sinh đúng hạn. Đăng ký lại khai sinh cho 21 trường hợp. Đăng ký kết hôn 24 cặp, trong đó đăng ký mới 01 cặp (chiếm 95,8%). Đăng ký khai tử cho 20 trường hợp, trong đó đăng ký đúng hạn là 12 trường hợp. Đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung thông tin hộ tịch cho 01 trường hợp. Đã cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho 59 trường hợp, trong đó sử dụng cho mục đích để đăng ký kết hôn là 27 trường hợp.
Qua tổng hợp kết quả trên thể hiện năm sau nhiều hơn năm trước cho thấy được nhu cầu của người dân đối với các công tác hộ tịch này là tương đối nhiều và công tác đăng ký hộ tịch đã phần nào đáp ứng được nhu cầu chính đáng của người dân. Người dân đã nhận thức được tầm quan trọng của giấy tờ hộ tịch nên không tùy tiện sửa chữa, thêm, bớt; tự giác thực hiện đi đăng ký các sự kiện hộ tịch theo đúng thời gian quy định của pháp luật, hạn chế tình trạng “sinh không khai, tử không báo” như trước đây. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của Công chức Tư pháp - Hộ tịch không ngừng được nâng cao, cải thiện nên các công tác đăng ký hộ tịch cũng được giải quyết nhanh chóng, chính xác, theo đúng quy định của pháp luật, góp phần làm giảm đáng kể các vụ việc khiếu nại, tố cáo về hộ tịch.
II. TỒN TẠI, HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Những tồn tại, hạn chế
Tình trạng đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn vẫn còn diễn ra.
Nhận thức của người dân về quyền và nghĩa vụ của việc đăng ký hộ tịch, ý thức chấp hành pháp luật về hộ tịch của một số người dân hạn chế, cố tình cung cấp các giấy tờ, hồ sơ có lợi để đăng ký hộ tịch dẫn đến sai sót trong đăng ký hộ tịch.
Kết xuất dữ liệu (các Biểu báo cáo) trong Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch dùng chung của Bộ Tư pháp không chính xác so với sự kiện đăng ký hộ tịch thực tế.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về đăng ký, quản lý hộ tịch tương đối đầy đủ nhưng một số nội dung chưa quy định chi tiết, gây khó khăn cho cơ sở trong quá trình triển khai thực hiện.
Công tác tuyên truyền pháp luật nói chung, pháp luật về hộ tịch nói riêng và những vấn đề liên quan đến quyền nhân thân của con người cho người dân còn mang tính hình thức, chưa thực sự đạt hiệu quả cao.
2. Nguyên nhân
2.1. Nguyên nhân đạt được
Đội ngũ cán bộ công chức lĩnh vực Tư pháp - Hộ tịch cơ bản về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng lên, tích cực nỗ lực hơn trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch để từ đó hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
2.2. Nguyên nhân tồn tại hạn chế
Nhiệm vụ, chức năng của công chức tư pháp - hộ tịch gồm có 12 đầu việc trong đó chỉ với riêng việc đăng ký, quản lý hộ tịch và chứng thực văn bản đã chiếm phần lớn thời gian trong tuần của công chức tư pháp - hộ tịch. Trong khi hầu hết các thủ tục hành chính có phát sinh hồ sơ phải giải quyết trong ngày. Có thể thấy, nhiệm vụ giao cho công chức tư pháp - hộ tịch rất nhiều, trong lúc biên chế ở cấp xã (riêng phường Đại Nài 01 biên chế) lại chưa phù hợp, nên khó khăn trong quá trình thực hiện nhiều nhiệm vụ.
Việc đăng ký hộ tịch bằng điện tử triển khai còn rất hạn chế, chưa đồng đều. Mặc dù được trang bị máy vi tính, cài đặt phần mềm hộ tịch nhưng cán bộ thực hiện vẫn còn lúng túng khi sử dụng do còn thiếu kỹ năng khi sử dụng phần mềm.
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI
Từ thực trạng công tác đăng ký hộ tịch của Ủy ban nhân dân phường Đại Nài, Thành phố Hà Tĩnh, tôi mạnh dạn kiến nghị, đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác đăng ký hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp xã như sau:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo của chính quyền các cấp đối với công tác đăng ký hộ tịch.
Cấp ủy đảng, nhất là người đứng đầu phải có nhận thức đầy đủ, sâu sắc về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về công tác đăng ký và quản lý hộ tịch cũng như vai trò, tầm quan trọng của công tác này trong giai đoạn hiện tại. Phải quán triệt kịp thời các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác này. Thực hiện nghiêm túc Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trên cơ sở đó, cần tiếp tục xây dựng kế hoạch công tác đăng ký hộ tịch, đồng thời kịp thời ban hành hệ thống các văn bản hướng dẫn, đốc thúc thực hiện. Bảo đảm sự nhận thức của cơ quan, tổ chức, xã hội về ý nghĩa, vai trò của đăng ký, quản lý hộ tịch và đặc biệt là nhận thức của cán bộ Tư pháp hộ tịch. Tăng cường sự lãnh đạo, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, uốn nắn kịp thời việc thực hiện công tác đăng ký hộ tịch theo đúng quy định của pháp luật.
Hai là, tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong cán bộ, nhân dân về tầm quan trọng, nội dung của công tác đăng ký hộ tịch ở cấp xã. Cấp ủy, chính quyền địa phương cần tạo mọi điều kiện để bảo đảm quyền được thông tin, tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, khuyến khích và có chính sách để các tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật; phát triển các dịch vụ pháp lý hỗ trợ công tác này. Quan tâm xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, có phẩm chất chính trị tốt, trình độ chuyên môn vững vàng, có kỹ năng truyền đạt, am hiểu pháp luật và kiến thức xã hội, có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Cần phải xác định những nội dung chính tuyên truyền, phổ biến, giáo dục với những hình thức và thời gian phù hợp cho từng loại đối tượng; bên cạnh việc khai thác có hiệu quả các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng cần quan tâm đến việc tổ chức những hình thức tuyên truyền phù hợp.
Ba là, củng cố, nâng cao năng lực đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu nghiệp vụ hộ tịch cho đội ngũ cán bộ công chức làm công tác hộ tịch.
Bốn là, đẩy mạnh thực hiện công tác cải cách hành chính. Tiếp tục hoàn thiện thể chế cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký hộ tịch. Tiếp tục triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư. Công khai đầy đủ quy trình, thủ tục, lệ phí, thời gian giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả dán tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã. Đảm bảo hồ sơ yêu cầu đăng ký hộ tịch của công dân được giải quyết đúng thời hạn; công tác đăng ký và quản lý khai sinh ngoài việc bảo đảm giải quyết hồ sơ của công dân, tổ chức kịp thời, chính xác, đúng pháp luật cần chú trọng triệt để cải cách thủ tục hành chính, công khai, minh bạch, đơn giản hóa về thủ tục. Tiếp tục ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hộ tịch giúp cho công tác đăng ký, quản lý nhà nước về hộ tịch được thực hiện một cách chính xác, khoa học, chất lượng và thống nhất trong phạm vi toàn quốc. Qua đó sẽ giảm bớt sức lao động thủ công, góp phần tăng năng suất lao động, tạo sự kết nối dữ liệu, nâng tầm quản lý giữa các cơ quan thực hiện đăng ký, quản lý nhà nước về hộ tịch.
Năm là, nghiêm túc thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện hoạt động đăng ký hộ tịch. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch nhằm giúp Ủy ban nhân dân cấp xã có thể nắm bắt, điều chỉnh và làm đúng những nguyên tắc, quy định về lĩnh vực đăng ký hộ tịch, ngăn chặn kịp thời những việc làm sai phạm, kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định bất cập, không phù hợp với thực tiễn.
Sáu là, khen thưởng, động viên khuyến khích những sáng kiến cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hành chính - tư pháp, đặc biệt là trong công tác hộ tịch.
IV. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
Tăng cường tổ chức mở các lớp tập huấn chuyên sâu về nghiệp vụ công tác hộ tịch để tạo điều kiện cho cán bộ Tư pháp - Hộ tịch nâng cao nghiệp vụ, thống nhất trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật.
Quan tâm bố trí biên chế đảm bảo số lượng, chất lượng; đầu tư kinh phí, trang thiết bị, cơ sở vật chất đáp ứng tiêu chuẩn được quy định trong Luật Hộ tịch.
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN
|
Đại nài, ngày 02 tháng 10 năm 2020
NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN
Trần Thị Loan
|